Bảo Hiểm ACE :
Hiển thị các bài đăng có nhãn bai-thuoc-dong-y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bai-thuoc-dong-y. Hiển thị tất cả bài đăng

Bài thuốc trị bệnh quai bị

Ngưu bàng tử là quả chín của cây ngưu bàng.

Thời tiết nắng nóng nhiều bệnh do virut, vi khuẩn gia tăng trong đó có bệnh quai bị. Trong số báo 107 ra ngày 6/7/2010, báo Sức khỏe & Đời sống đã đăng bài viết Phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt cung cấp cho độc giả những thông tin cơ bản để nhận biết hai bệnh này. Số báo này, chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn một số bài thuốc đông y điều trị quai bị để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Theo y học cổ truyền, bệnh quai bị xảy ra do độc ôn dịch xâm nhập phế vệ qua đường mũi họng phạm tới hai kinh thiếu dương đởm và dương minh vị. Kinh thiếu dương phụ trách khí phong mộc, kinh dương minh phụ trách táo kim. Tà phong nhiệt xâm phạm vào hai kinh này gây uất kết ở vùng dưới tai, dưới hàm và má. Can và đởm có mối liên quan biểu lý, khi kinh đởm bị tổn thương làm kinh can cũng bị ảnh hưởng mà gây ra.

Biểu hiện: Sốt hoặc sốt nhẹ, sợ lạnh, sưng cứng dưới tai và vùng dưới hàm, ấn vào đau, thường sưng một bên dần dần sưng cả hai bên. Nếu cảm nhiễm ôn độc mạnh: Sốt cao, khát, sưng vùng dưới tai, má bạnh, đau, rêu lưỡi vàng. Mạch sác.

Trường hợp ôn độc nhẹ dùng bài Liên kiều bại độc tán: Khương hoạt 8g, phòng phong 6g, cát cánh 8g, liên kiều 6g, hồng hoa 4g, độc hoạt  8g, sài hồ 8g, cam thảo 4g, ngưu bàng tử  8g,  tô mộc 6g, kinh giới 4g, thăng ma 6g, xuyên khung 4g, đương quy vĩ 8g, thiên hoa phấn 12g. Các vị trên sắc với 1400ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.

- Uống ấm chia đều 6 lần, ngày uống 5 lần, tối uống 1 lần.

- Chú ý: Trẻ nhỏ tuỳ tuổi mà có liều thuốc thích hợp.

Trường hợp ôn độc nặng dùng bài Phổ tễ tiêu độc ẩm: Hoàng cầm 12g, hoàng liên 6g, cam thảo 4g, huyền sâm 16g, liên kiều 8g, bản lam căn 8g, ngưu bàng tử 16g, bạc hà tươi 16g, bạch cương tàm  12g, cát cánh 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 6g. Bạch cương tàm sao, bản lam căn tán bột mịn. Các vị trên (trừ bản lam căn) + 1.800ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 250ml, sau đó cho bản lam căn vào đun sôi quấy đều. Uống chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.

Chú ý: Hà mô ôn là bệnh độc ôn dịch bệnh mang tính chất truyền nhiễm lan tràn. Nên khi phát hiện được bệnh phải cách ly để tránh lây cho người lành. Bệnh lây bằng đường phế khí, ẩm thực. Nếu bệnh nhẹ tự khỏi trong 2 tuần. Nếu bệnh tiến triển nặng tuỳ chứng trạng mà cho bài thuốc phù hợp.

TTND.BS. Trần Văn Bản
(suckhoe&doisong)
nhận xét | | Đọc thêm...

4 phương thuốc đơn giản chữa bệnh rộp môi

Rộp môi (hay hecpet môi) thường xuất hiện vào mùa mưa, gây ra những nốt rộp nhỏ, đầy dịch và sưng đỏ đau trên mặt bạn. Bệnh có thể lây qua tiếp xúc da. 4 phương thuốc dưới đây sẽ giúp bạn kịp thời ngăn chặn sự phát triển của bệnh.


1. Kem dưỡng môi vị chanh
Chanh là thảo mộc thuộc họ bạc hà. Một nghiên cứu cho thấy loại kem có chứa chanh giảm tấy đỏ và sưng chỉ sau hai ngày. Bạn có thể dùng thuốc mỡ dưỡng vị chanh hoặc pha 2-4 muỗng cà phê nghiền dưỡng chanh trong 1 cốc nước sôi khoảng 10 đến 15 phút. Sử dụng dung dịch này để làm mát và dùng bông thoa nó trên chỗ rộp.

2. Trà xanh
Trà xanh chứa chất EGCG chống oxy hóa và có tính kháng khuẩn rất hiệu quả với những vết rộp. 2-3 tách trà xanh mỗi ngày hoặc đắp trà xanh lên vết rộp sẽ cung cấp cho bạn lượng lớn EGCG cần thiết.

3. Thuốc mỡ oxit kẽm
Các nghiên cứu trong ống nghiệm đã chỉ ra rằng kẽm có thể tiêu diệt đến 98% tế bào hecpet đơn loại 1. Bôi thuốc mỡ oxit kẽm làm chậm thời gian rộp môi tới 2 ngày, sử dụng thuốc mỡ sau 2 giờ ngay khi bạn rộp môi.

4. Mật ong
Cách điều trị này có thể tốt hơn cả các loại thuốc, mật ong rút ngắn thời gian vết loét hơn 35% so với acyclovir (thành phần trong thuốc điều trị chống virus hecpet), mật ong nguyên chất có thể giúp điều trị bệnh rộp môi.
Trà My
(Theo MSN)
nhận xét | | Đọc thêm...

Đông y trị bệnh đái tháo đường

(SKDS) - Theo y họ
c cổ truyền bệnh đái tháo đường thuộc phạm trù “tiêu khát”. Tiêu khát là bệnh có đặc điểm uống nhiều, ăn nhiều, đái nhiều hoặc người gày do nhiệt đốt âm của ba tạng phế, vị, thận và chuyển vận của thủy cốc bị bất thường.
"Uống nhiều là bệnh ở thượng tiêu, ăn nhiều mau đói là bệnh ở trung tiêu, miệng khát đái dính như cao là bệnh ở hạ tiêu” Tuệ Tĩnh cho tiêu khát là “chứng trên thì muốn uống nước dưới thì ngày đêm đi đái rất nhiều…” Bệnh ở thượng tiêu là phổi, uống nhiều ăn ít, đại tiểu tiện như thường, đó là tâm hỏa nung nấu phế kim mà sinh ra khát; bệnh ở trung tiêu là dạ dày ăn nhiều uống nhiều mà tiểu tiện vàng đỏ đó là dạ dày huyết nhiệt đồ ăn mau tiêu chóng đói, trong huyết có hỏa nung thì chất nước khô ráo mà sinh ra khát, bệnh ở hạ tiêu là thận, tiểu tiện đặc như cao, uống nhiều nước vành tai đen sạm, tiểu tiện đi luôn “Nguyên nhân thường do tình chí không thoải mái, suy nghĩ quá độ, ăn uống không điều độ, nhiều chất cay béo, làm quá độ nghỉ ngơi không đủ. H

ải Thượng Lãn Ông cho là phần nhiều do hỏa làm tiêu hao chân âm là chất dịch bị khô kiệt sinh ra”. Tình chí không thoải mái, suy nghĩ quá độ làm khí uất, lâu sẽ hóa nhiệt, nhiệt làm tổn thương âm của vị của phế làm cho vị nhiệt, phế táo, làm chức năng trị tiết của phế bị rối loạn, không phân bố được tinh vị của thức ăn đi toàn thân mà đi thẳng xuống bàng quang, làm cho miệng khát, đái nhiều, nước đái ngọt.
Chứng tiêu khát tuy chia làm thượng tiêu (phế) trung tiêu (vị) hạ tiêu (thận) ba loại song gốc là một, đó là âm hư. Âm hư gây dương cang. Trong 3 tạng, âm hư ở thận là chủ yếu. Y học cổ truyền chia tiêu khát thành các thể bệnh khác nhau, ứng với mỗi thể bệnh có bài thuốc điều trị riêng như sau:

Sa sâm vị thuốc điều trị bệnh.
Thể phế tạo vị nhiệt (Bệnh ở thượng tiêu và trung tiêu)
- Chứng trạng:
Phiền khát uống nhiều, hay đói, hình dáng gầy còm, miệng khô lưỡi ráo, mép lưỡi nhọn đỏ, mạch hoạt sác.
- Phép điều trị:
Nhuận táo dưỡng âm thanh nhiệt.
- Bài thuốc:
- Sinh thạch cao 60g (sắc trước), tri mẫu 15g, cam thảo 6g, đẳng sâm 15g, sa sâm 15g, mạch đông 12g, sinh địa 30g, ngọc trúc 15g, thiên hoa phấn 15g.
- Chứng trạng:
Tiểu nhiều lần, lượng nhiều, nước tiểu ngầu đục như nước đường, eo lưng mỏi mất sức, miệng khô lưỡi đỏ, hoặc lưỡi nhẵn đỏ không rêu, mạch tế sác.
- Phép điều trị:
Tư dưỡng thận âm.
- Bài thuốc
- Sinh địa 15g, thục địa 15g, hoài sơn dược 30g, sơn thù du 15g, phục linh 12g, đan bì 9g, trạch tả 12g, cẩu kỷ tử 12g, nữ trinh tử 12g, đồng tật lê 12g, bạch thược 12g.
Thể âm dương đều hư (thể nặng)
- Chứng trạng:
Tiểu nhiều lần, nước tiểu vẩn đục như nước đường, sắc mặt xám đen hoặc trắng bệch, hoặc có phù, hoặc đi ngoài nát loãng, nặng thì đi lỏng, sợ rét, sợ lạnh, lưỡi nhát rêu trắng, mạch trầm tế vô lực.
- Phép điều trị:
Tư dưỡng thận âm, ôn bổ thận dương.
- Bài thuốc
- Thục địa 30g, sơn dược 30g, sơn thù du 15g, phục linh 15g, đan bì 9g, trạch tả 9g, nhục quế 3g, phục tử 6g (sắc trước).
Thể ứ huyết (biến chứng)
- Chứng trạng:
Quá trình bệnh lâu ngày, hoặc bệnh này phối hợp với biến đổi bệnh huyết quản tim não, chất lưỡi tối hoặc có ban ứ, chấm ứ, mạch tế sáp.
- Phép điều trị:
Hoạt huyết hóa ứ.
- Bài thuốc
- Ngũ linh chi 15g, đương quy 12g, xuyên khung 9g, đào nhân 9g, đan bì 9g, xích thược 9g, diên hồ sách 9g, ô dược 6g, hồng hoa 9g, chỉ xác 9g.
Ngoài ra, không phân biệt thể bệnh, có thể dùng chung một bài thuốc cho tất cả các thể bệnh của bệnh tiêu khát.
- Sinh hoàng kỳ 12g, đảng sâm 12g, bạch truật 12g, bạch thược 10g, sơn thù 12g, ngưu tất 10g, bán hạ 10g, hoàng cầm sao rượu 3g, phục linh 10g, trạch tả 10g, mộc qua 10g, sinh khương 8g, chích thảo 6g.
Các bài thuốc trên cho 1 lít nước sắc chắt lấy 0,3 lít nước thuốc chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 30 phút.
LY. Vũ Quốc Trung
nhận xét | | Đọc thêm...

Chữa mất ngủ bằng thuốc nam

Mất ngủ là một chứng bệnh của xã hội hiện đại ngày nay do rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: mắc bệnh lý, lo âu hay căng thẳng; mất ngủ do dùng thuốc, chất kích thích, lệch múi giờ, ăn quá no vào buổi tối...Trong đông y, mất ngủ được xếp vào chứng “bất mị”, tuy là một chứng bệnh “nan giải” nhưng hoàn toàn có thể phòng trị được bằng những cây lá quanh nhà.

Phần gốc thân phình thành củ của cây bình vôi làm thuốc an thần.

Bài 1: Dùng độc vị cây xấu hổ hoa tím (cây mắc cỡ) 15g hoặc phối hợp với cúc bạc đầu 15g, chua me đất 30g sắc uống hằng ngày vào buổi tối và trước khi đi ngủ 30 phút. Dùng cho người lao động trí óc, suy nhược thần kinh, tim hồi hộp, mất ngủ...

Bài 2: Nhân hạt táo chua 20g đập dập sắc uống trong ngày. Dùng cho người hồi hộp đánh trống ngực, luôn trong tình trạng buồn phiền lo lắng, mất ngủ...

Bài 3: Nhân hạt táo chua khô 25g, sinh địa 30g, hạt muồng sao 20g, mạch môn (bỏ lõi) 15g, long nhãn 10g, hạt sen 12g, sắc uống ngày 1 thang. Dùng cho người có tâm trạng kinh hãi, hồi hộp, ít ngủ, khó ngủ, hay nằm mê, hoảng hốt, mất hoặc giảm trí nhớ...

Bài 4: Tâm sen 2-3g hãm chè uống trong ngày, trị mất ngủ, lo lắng hồi hộp, miệng háo khát nước, di mộng tinh, tim đập nhanh, tăng huyết áp...

Bài 5: Hạt sen, long nhãn, nhân hạt táo chua (sao) mỗi vị 10-15g, củ bình vôi 8g, lá vông 12g. Sắc uống ngày 1 thang, uống trong ngày và trước khi ngủ 30 phút. Trị mất ngủ ở người gầy yếu, hay hồi hộp, sợ hãi, đánh trống ngực, ngủ không yên, trí nhớ giảm, tinh thần suy nhược, ăn uống kém, gầy sút, mỏi mệt, thích nằm...

Bài 6: Rễ nhài 5-7g sắc uống trong ngày hoặc nghiền nát vắt lấy hỗn dịch uống 5-7 ngày. Dùng cho người trằn trọc khó ngủ, ngủ hay tỉnh giấc...

Bài 7: Lạc tiên 8-16g sắc uống trong ngày, uống liên tục 10-15 ngày hoặc kết hợp với lá vông 16g, lá dâu 20g, tâm sen 2g sắc uống hay nấu thành cao lỏng, mỗi ngày dùng 2-5g, chia nhiều lần uống, nên uống trước khi đi ngủ. Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, tâm trạng bứt rứt...

Bài 8: Cỏ bấc đèn 4g, lá tre 12g, mạch môn (bỏ lõi) 12g. Sắc uống trong ngày, uống 10-5 ngày. Chữa tâm phiền, miệng khát, bực dọc trong người, mất ngủ, ngủ gà...

Bài 9: Cùi nhãn 15-20g, sắc uống hằng ngày. Trị mất ngủ do huyết hư, tinh thần mệt mỏi hay quên, tư lự quá độ mất ngủ, thần kinh suy nhược, hồi hộp, hoảng hốt...

Bài 10: Hạt sen 15g, lá tre 12g, lá dâu 15g, lạc tiên 20g, lá vông 12g, cam thảo 3g, nhân hạt táo chua 8g. Sắc chia uống trong ngày, trị mất ngủ do phiền muộn, bứt rứt, khó vào giấc ngủ...

Bài 11: Đậu đen 30g, hạt sen để cả tâm (sao vàng) 15g, lá vông 15g, lá dâu tằm 20g, lạc tiên 15g, thảo quyết minh (sao vàng) 8g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng liên tục 10-15g. Trị mất ngủ kèm theo triệu chứng buồn bực, ù tai, đau lưng, uể oải không muốn làm việc, nóng nảy bứt rứt, có cảm giác bốc hỏa lên đầu mặt, đau đầu choáng váng, tâm phiền miệng khát, đêm ra mồ hôi trộm...

Bài 12: Nhân hạt táo chua 1 lạng, sao chín thơm, tán nhỏ, mỗi lần uống 3g, uống với nước sắc lá tre. Trị mất ngủ do âm hư, dương khí thiên thắng âm dương mất điều hòa, tâm trạng bứt rứt buồn phiền...

Chú ý: Để chứng mất ngủ được cải thiện nhanh chóng, cần xác định rõ nguyên nhân mất ngủ như: bệnh lý, stress, chất kích thích... Không ăn quá no và uống các chất kích thích vào buổi tối, cân bằng công việc giải tỏa căng thẳng thần kinh, không nên để máy tính, tivi trong phòng ngủ...
Lương y Chu Văn Tiến

Theo SKĐS
nhận xét | | Đọc thêm...

Bài thuốc trị chứng khô miệng

(SKDS) - Khô miệng thường gặp ở người trung và cao tuổi. Theo Đông y, bệnh do những nguyên nhân như: thận âm hư suy, tâm hỏa can thịnh, phế nhiệt tác dụng phụ của thuốc, cân dịch bị hao tổn... Trong cơ thể, tân dịch thuộc thủy, thận chủ thủy. Do đó khi bị chứng khô miệng, khô niêm mạc người ta đặc biệt chú ý đến cặn thận. Các yếu tố khác có liên quan cũng không nên bỏ sót.

Sau đây là những bài thuốc chữa khô miệng theo từng thể lâm sàng.
Khô miệng do phế nhiệt
Triệu chứng: Hơi thở nóng, khô miệng, khô niêm mạc, đau họng, da khô, ho khan kéo dài, tiểu đỏ, tiểu rắt, ăn ngủ kém, đại tiện thường bị táo. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Cát căn 20g, tang diệp 20g, mã đề thảo 16g, mạch môn 16g, cát cánh 16g, sinh địa 12g, sâm đại hành (sao thơm) 6g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Dùng 10 ngày liền. Công dụng: bổ phế, sinh tân.
Bài 2: Bạch thược 12g, chi tử 12g, ngũ vị 10g, cát cánh 12g, tang diệp 20g, thục địa 12g, đương quy 12g, thiên môn 12g, mạch môn 16g, sa sâm 16g, rau má 20g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Bài này bổ phế âm, sinh tân dịch.

Vị thuốc kỷ tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây kỷ tử chữa chứng khô miệng.
Khô miệng, khô niêm mạc do tâm hỏa cang thịnh
Triệu chứng: Thường có cơn bốc nóng, đau váng đầu, giấc ngủ không thành, tâm phiền, rạo rực, tiểu đỏ tiểu ít, miệng khô, họng ráo, đau họng, lưỡi đỏ, mồ hôi thường toát ra bất kỳ. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Hoàng liên 10g, hoàng cầm 10g, sinh địa 12g, hắc táo nhân 16g, chi tử 12g, lá mã đề 20g, cát căn 16g, sa sâm 16g, sơn thù 12g, đương quy 16g, thạch hộc 16g, cam thảo 12g, đại táo 5 quả. Sắc uống 2 ngày 1 thang. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: tả tâm hỏa, bổ thủy để sinh tân dịch.
Bài 2: Cỏ mực, rau má, tang diệp mỗi vị 20g, hoàng liên 10g, thạch hộc 16g, thiên môn 12g, sa sâm 16g, đương quy 16g, thục địa 12g, chi tử 12g, bạch thược 12g. Hắc táo nhân 16g, thảo quyết minh (sao vàng) 12g, cam thảo 12g, đại táo 5 quả. Sắc uống 2 ngày 1 thang. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: tả hỏa, sinh thủy, sinh tân dịch.
Khô miệng, khô niêm mạc do thận âm hư suy
Triệu chứng: hoa mắt, váng đầu, triều nhiệt. Theo lý thuyết của Đông y: "Âm hư thì hỏa vượng". Âm dương cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, âm hư thì cơ thể yếu mệt, hoa mắt buốt đầu, miệng khô, họng ráo, chân tay không có lực, ngủ hay mơ màng, đau lưng mỏi gối, nam giới thì dễ bị di tinh, mộng tinh... Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Hoài sơn 16g, sơn thù 12g, đan bì 10g, trạch tả 16g, thục địa 12g, bạch linh 12g, thạch hộc 16g, khiếm thực 16g, tang bạch bì 16g, đại táo 5 quả, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Tác dụng: bổ thận thủy. Dùng 10 - 15 ngày liền. Công dụng: bổ âm sinh thủy.
Bài 2: Tang diệp, cỏ mực, mỗi vị 20g. thạch hộc 12g, khiếm thực 12g, tang thầm 12g, hoài sơn 16g, sơn thù 12g, mơ muối 10g, mạch môn 16g, đan bì 10g, trạch tả 12g, thục địa 16g, củ đinh lăng 16g, đậu đen sao thơm 16g, bạch linh 10g, cam thảo 12g, kỷ tử 12g. Sắc uống ngày một thang. Sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: bổ âm dưỡng huyết, sinh tân dịch.
Lương y: Trịnh Văn Sỹ
nhận xét | | Đọc thêm...
 
Design Template by trị bệnh | Support by i xinh | Thiên Long Mobile Powered by Blogger