Bảo Hiểm ACE :
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

Trẻ chậm phát triển trí tuệ - bệnh lý cần phát hiện sớm

Trẻ chậm phát triển tâm thần không phải là một đơn thể bệnh mà là một nhóm trạng thái bệnh lý khác nhau về nguyên nhân nhưng biểu hiện chung là sự trì trệ về phát triển tâm thần có tính bẩm sinh, hoặc mắc phải chủ yếu trong 3 năm đầu khi hệ thần khinh chưa hoàn chỉnh về cấu trúc. Có thể phát hiện sớm ở những tuần lễ đầu tiên như không có nhu cầu ăn bú (có thể kéo dài vài tháng), trẻ ít cựa quậy, ít hoặc không khóc, chậm cười, chập phản ứng theo tiếng động, chậm phát triển về tâm vận động như lẫy, ngồi, bò, đứng, đi, nói... chậm biết nhai. Trẻ chậm phát triển tâm thần thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay kín đáo ngay từ những tuần đầu. Tuy nhiên, có một số trẻ phát triển bình thường tới một tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) rồi mới biểu hiện chậm phát triển tâm thần. Ngược lại có trẻ có biểu hiện chậm phát triển về tâm vận động nhưng đến tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) lại phát triển nhanh đuổi kịp trẻ cùng tuổi. Do vậy, cần phải khám theo dõi cẩn thận sự phát triển của trẻ thì mới có kết luận chính xác và đưa ra cách xử trí kịp thời.

Chậm phát triển trí tuệ có nhiều mức độ từ nhẹ đến rất nặng. Ở những thể nặng chẩn đoán dễ dàng vì bệnh cảnh lâm sàng khá rõ nhưng can thiệp điều trị lại rất ít kết quả. Trẻ chậm phát triển trí tuệ thể nặng và thể vừa đều có những biểu hiện kém về mặt tư duy, cảm xúc, hành vi tác phong hoặc có những dị dạng cơ thể ở nhiều bộ phận. Rất may theo số liệu điều tra nghiên cứu của nhiều tác giả thì chậm phát triển trí tuệ thể nặng chỉ chiếm 5%.


Ảnh minh họa

Còn chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ thể nhẹ thì khó vì bệnh cảnh lâm sàng nhiều khi không rõ ràng nên khó phân biệt nó với giới hạn bình thường nhưng nó lại chiếm tới hơn 80%. Ở mức độ nhẹ này việc can thiệp bằng giáo dục, huấn luyện có thể giúp trẻ phát triển trí tuệ tốt hơn, hòa nhập tốt hơn vào môi trường xã hội. Chính vì vậy, cần phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh để có thể phục hồi sớm cho trẻ.

Có thể phát hiện sớm ở những tuần lễ đầu tiên như không có nhu cầu ăn bú (có thể kéo dài vài tháng), trẻ ít cựa quậy, ít hoặc không khóc, chậm cười, chập phản ứng theo tiếng động, chậm phát triển về tâm vận động như lẫy, ngồi, bò, đứng, đi, nói... chậm biết nhai. Trẻ chậm phát triển tâm thần thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay kín đáo ngay từ những tuần đầu.

Tuy nhiên, có một số trẻ phát triển bình thường tới một tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) rồi mới biểu hiện chậm phát triển tâm thần. Ngược lại, có trẻ có biểu hiện chậm phát triển về tâm vận động nhưng đến tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) lại phát triển nhanh đuổi kịp trẻ cùng tuổi. Do vậy, cần phải khám theo dõi cẩn thận sự phát triển của trẻ thì mới có kết luận chính xác và đưa ra cách xử trí kịp thời.     

(  Bác sĩ THANH XUÂN)

Hỏi đáp - Phát hiện sớm trẻ chậm phát triển trí tuệ


Tôi có cháu trai 9 tuổi. Khi sinh cháu nặng 3,1kg, cháu ăn ngủ rất ngoan, ít khi quấy khóc. Nhưng nay tôi thấy cháu phát triển trí tuệ chậm hơn các trẻ cùng tuổi. Xin hỏi bằng cách nào để phát hiện sớm và điều trị như thế nào?
Phạm Thị Nga (Nghệ An)



Về điều trị: Trừ vài loại bệnh gây chậm phát triển tâm thần, có thể điều trị tốt nếu phát hiện sớm, còn đa số các loại khác, nhất là các trường hợp nặng khó có thể chữa khỏi. Do vậy việc phòng bệnh có vai trò đặc biệt như: tránh để ngạt khi đẻ, đẻ non, trẻ thiếu cân, các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc, viêm não, màng não.       
(  Bác sĩ Nguyễn Thị Hạnh)

SKDS
nhận xét | | Đọc thêm...

Tiêm ngừa viêm gan B cho bé sau khi sinh 3 giờ

Xin bác sĩ tư vấn giúp em. Trước khi mang thai, khi đi xét nghiệm viêm gan B (VGB), bác sĩ nói em bị VGB ở dạng người lành mang bệnh.
Sau khi em sinh mổ, bệnh viện có cho con em xét nghiệm VGB nhưng không nói kết quả và cũng đã tiêm ngừa lao, VGB. Hiện nay, con em được 20 tháng; đã tiêm 3 mũi VGB, hiện bé vẫn bú mẹ. Bác sĩ cho em hỏi, liệu con em có thể bị viêm gan B không? Xin cảm ơn bác sĩ. (utmien81)

Trả lời:

Nhiễm virut VGB mạn tính hiện là vấn đề sức khỏe đang được quan tâm tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Biến chứng của bệnh có thể dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan. Virut VGB lây theo đường máu, tình dục và mẹ truyền sang con lúc sinh. Để ngăn ngừa lây nhiễm từ mẹ sang con, chương trình tiêm chủng mở rộng đã thực hiện tiêm phòng cho tất cả trẻ sơ sinh.

Con bạn đã được  tiêm đủ 3 mũi VGB như vậy là rất tốt. Tuy nhiên, khả năng lây nhiễm từ mẹ sang con tùy thuộc vào thời điểm tiêm mũi đầu tiên (càng sớm càng tốt, nhất là 3 giờ đầu sau sinh), nồng độ virut VGB trong cơ thể người mẹ, mức độ cảm nhiễm của bé… Con bạn bú mẹ cũng không làm tăng tỷ lệ lây từ mẹ sang con. Như vậy, bạn đã làm những việc tốt nhất cho sức khỏe của bé và có thể làm giảm lây nhiễm từ mẹ sang con. Tuy nhiên, muốn biết được bé có bị lây từ mẹ hay không chỉ có cách xét nghiệm cho bé. Khi có điều kiện bạn có thể cho bé làm xét nghiệm để xác định tình trạng của bé một cách tốt nhất. Chúc bạn vui và bé khỏe mạnh.

Ths – BS Nguyễn Minh Ngọc
Khoa Khám bệnh, Viện Pasteur TP.HCM


(PNO)
nhận xét | | Đọc thêm...

Ngừa bệnh nhiễm trùng tai ở trẻ

Theo thống kê, có khoảng 2/3 số trẻ em bị nhiễm trùng tai ít nhất một lần trước giai đoạn lên hai tuổi. Và tình trạng nhiễm trùng tai thường gây ra bởi virus hoặc vi khuẩn. Những đứa trẻ dưới 7 tuổi có thể bị nhiễm trùng tai vì nhiều lý do, như:

- Những ống thông với phần sau của cổ họng với tai giữa của trẻ bị hẹp (những ống này gọi là vòi Ot-tat). Vị trí của những ống này cũng có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.

- Hệ miễn dịch của trẻ đang phát triển, chưa hoàn chỉnh.

Những đứa trẻ có thể bị nhiễm trùng tai khi có các biểu hiện như bị đau ở tai; không nghe rõ; hay nắm kéo tai; sốt trên 38 độ C; hay khóc trong lúc bú hoặc ăn.

Hãy cho trẻ đến bệnh viện kiểm tra nếu bạn nghi ngờ trẻ bị nhiễm trùng tai.

Một vài thể nhiễm trùng tai có thể tự khỏi trong vòng vài ngày mà không cần điều trị. Trong khi một số trường hợp khác cần phải sử dụng đến kháng sinh. Các bác sĩ thường điều trị cho những đứa bé dưới 6 tháng tuổi bằng cách chỉ định sử dụng thuốc kháng sinh. Riêng đối với những trẻ lớn hơn và có triệu chứng nhiễm trùng tai nhẹ, bác sĩ có thể đề nghị chờ một vài ngày xem bệnh có tự khỏi hay không rồi mới kê thuốc kháng sinh.

Khi các bác sĩ chỉ định cho trẻ uống thuốc kháng sinh, hãy bảo đảm rằng trẻ cần phải uống đúng thời lượng (ngay cả khi trẻ cảm thấy bớt bệnh sớm hơn). Nếu buộc trẻ ngừng việc sử dụng thuốc kháng sinh quá sớm, chứng nhiễm trùng tai có thể bị tái lại và khi đó, trẻ phải cần tới loại thuốc kháng sinh mạnh hơn để điều trị.

Bác sĩ cũng có thể chỉ định các phương pháp điều trị giúp giảm triệu chứng đau tai ở trẻ như cho trẻ uống thuốc acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin or Advil), và đôi khi bác sĩ cũng sử dụng các loại thuốc nước để nhỏ vào tai trẻ.

Sau khi điều trị, tai của trẻ có thể bị chảy nước và làm giảm khả năng nghe của trẻ trong vòng ba tuần hoặc lâu hơn. Và thính giác của trẻ sẽ trở lại bình thường khi các chất lỏng trong tai không còn hình thành nữa.

Làm gì để ngăn ngừa?

- Cho trẻ bú sữa mẹ. Sữa mẹ có chứa các chất kháng thể đặc biệt, có thể giúp bảo vệ cơ thể trẻ trước các nguy cơ bị nhiễm trùng, bao gồm cả các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng tai.

- Giữ trẻ đúng tư thế trong lúc bú bình. Điều này giúp ngăn ngừa sữa không nhiễu vào các vòi Ot-tat trong tai giữa của trẻ, gây nhiễm trùng. Đồng thời, bạn cũng nên tránh để bình sữa trong nôi, cũi của trẻ sau khi cho trẻ bú xong.

- Không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá. Vì khói thuốc dường như làm gia tăng nguy cơ gây ra các vấn đề về tai, cũng như hệ hô hấp và nhiễm trùng. Việc làm sạch bụi bặm trong nhà cũng rất có ích đối với trẻ.

- Bảo đảm rằng trẻ phải được chủng ngừa miễn dịch đầy đủ. Vắc-xin pneumococcal có thể giúp trẻ ngăn ngừa chứng nhiễm trùng tai gây ra bởi các loại vi khuẩn nhất định.

(Theo Miles For Babies)
(PNO)
nhận xét | | Đọc thêm...

Vitamin D có thể ngăn ngừa bệnh hô hấp nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh

Mới đây, các nhà nghiên cứu Hà Lan đã đưa ra kết luận, bổ sung vitamin D cho phụ nữ mang thai có thể giúp ngăn ngừa một bệnh hô hấp gọi là RSV (Respiratory Syncytial Virus) có thể dẫn đến viêm phổi và các bệnh khác có khả năng đe dọa tính mạng trẻ sơ sinh.

Vitamin D có nhiều chức năng quan trọng, như hình thành và hoàn thiện hệ miễn dịch. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò giúp hệ thống hô hấp phát triển.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng dịch bệnh Hoa Kỳ, bệnh do virut hô hấp gây ra (RSV) là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh viêm phổi và viêm đường hô hấp dưới (viêm tiểu phế quản) ở trẻ sơ sinh tại Hoa Kỳ.

“Chúng ta không có phương pháp điều trị RSV. Điều duy nhất chúng ta có thể làm là cố gắng ngăn ngừa bệnh”, trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Louis Bont, khoa Các bệnh truyền nhiễm trẻ em thuộc Bệnh viện Nhi Wilhelmina và Trung tâm y khoa University Medical Center tại Utrecht, cho biết. "Một cách để ngăn ngừa RSV ở trẻ sơ sinh là cho phụ nữ mang thai bổ sung vitamin D. Trong thực tế, có hướng dẫn quy định điều đó. Nếu phụ nữ mang thai không dùng vitamin D bổ sung, họ có mức vitamin D thấp trong máu truyền qua dây rốn và sau đó các bé sẽ có nguy cơ gia tăng RSV. Lượng vitamin D trong giai đoạn cuối của thai kỳ rất quan trọng giúp ngăn ngừa RSV cũng như các bệnh khác về đường hô hấp”.

Nhóm nghiên cứu của Bont đã tiến hành đo lượng vitamin D trong máu ở dây rốn 156 trẻ sơ sinh tại Hà Lan. Kết quả cho thấy 54% trẻ sơ sinh thiếu hụt vitamin D. Trong số đó, có 18 trẻ (12%) phát triển RSV trong năm đầu tiên. Ngoài ra, những trẻ có mức vitamin D thấp có khả năng phát triển RSV gấp 6 lần so với nhóm trẻ khác.

Trong số những phụ nữ tham gia nghiên cứu, chỉ có 46% bổ sung vitamin D khi mang thai.

Tiến sĩ Bont cho rằng tất cả phụ nữ mang thai nên dùng vitamin D bổ sung: “Nói chung, họ phải được nhận 400 đến 1.000 đơn vị (IU) một ngày”. Ông và các đồng nghiệp đã giải thích: một số phụ nữ mang thai có thể cần đến 4.000 IU mỗi ngày để đạt được kết quả tốt nhất cho trẻ sơ sinh của họ.

Tiến sĩ Andrew Colin, Giám đốc chuyên khoa các bệnh phổi trẻ em thuộc Đại học Miami Miller School of Medicine, ghi nhận về mối liên hệ giữa lượng vitamin D thấp với các bệnh về phổi đã được phát triển qua nhiều năm. Điều này đặc biệt đúng đối với bệnh hen suyễn. Trong thực tế, sự gia tăng các trường hợp suyễn có thể một phần do mức độ vitamin D thấp. Colin cho rằng, vitamin D có thể ngăn ngừa RSV.

“RSV là một hiểm họa trên toàn thế giới, ông Colin nói, có lẽ bệnh về phổi quan trọng nhất của trẻ thời thơ ấu là RSV”. RSV lây nhiễm cho khoảng 5 triệu trẻ em tại Hoa Kỳ mỗi năm. Nhưng nếu phụ nữ đã bổ sung vitamin D trong quá trình mang thai, khoảng 20% những bệnh nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh có thể được ngăn chặn, giảm xuống mức chỉ 1 triệu trường hợp mỗi năm.

Nguyễn Nga (Theo Babycenter)

(PNO)
nhận xét | | Đọc thêm...

Trẻ dùng kháng sinh nhiều dễ tiêu chảy


Nhiều bạn đọc tiếp tục gửi thư về tòa soạn nhờ tư vấn về dinh dưỡng cho trẻ.
> TƯ VẤN SỨC KHỎE TRỰC TUYẾN

Hỏi: Tôi có con gái gần 17 tháng nhưng chỉ được 10 kg, cao 7,2 cm như thế bé có bị suy dinh dưỡng không? Bé rất lười ăn, đang bú mẹ, không thích uống sữa ngoài. Mặc dù tôi đã thay đổi các món ăn trong thực đơn hàng ngày cho bé nhưng bé vẫn không chịu ăn. Bé nhà tôi lại hay bị ho, bình quân 1 tháng đi bác sỹ 2 lần, uống thuốc kháng sinh nhiều như thế có ảnh hưởng gì nhiều cho bé sau này không?

Le Thi Thu Hien (thuhien_18061985@yahoo.com.vn)
Trả lời: 17 tháng tuổi nặng 10kg cao 72 cm là thấp so với tuổi nhưng không bị suy sinh dưỡng. Dùng kháng sinh nhiều có thể gây mất cân bằng vi khuẩn đường ruột, dễ dẫn tới tiêu chảy. Cháu hay bị ho cần phải cho cháu đi khám BS chuyên khoa hô hấp, tai mũi họng để tìm ra nguyên nhân và cách điều trị.

***

Hỏi: Con trai em được 17 tháng tuổi, nặng 10,5kg, cao 80cm, không biết là cháu có bị suy dinh dưỡng không? Cháu ăn một ngày 4 bát cháo, 400ml sữa, 01 hộp sữa chua hoặc váng sữa, 01, quả cam, như vậy lượng ăn của cháu đã đủ chưa? Nếu sữa chua ngâm vào nước nóng trước khi ăn thì có được không? Xin chân thành cảm ơn bác sĩ!

Nguyễn Thị Kim Thoa (kimthoa286@yahoo.com)

Trả lời: Con bạn 17 tháng nặng 10,5 kg cao 80cm là bình thường so với tuổi. Lượng ăn của cháu như vậy là được. Trước khi ăn ngâm sữa chua vào nước nóng vừa phải để đỡ lạnh có thể được nhưng không nên ngâm vào nước quá nóng vì có thể làm phân hủy loại men vi sinh trong sữa chua.

***

Hỏi: Tôi có cháu 9 tháng tuổi nhưng cháu chỉ nặng 7,5kg và cao 68cm, cháu vẫn chưa mọc chiếc răng nào, cháu ăn tốt, mọi thứ phát triển bình thường nhưng mọi người nói cháu còi quá, cả gia đình tôi đều lo lắng. Tôi thắc mắc không biết cháu có bị suy dinh dưõng không, có còi xương không? Xin bác sỹ tư vấn cho tôi chế độ ăn nào tốt để cháu được tăng cân!

letrang (trang.lethithu@vietinbank.vn)
Trả lời: Con bạn 9 tháng nặng 7,5 kg là gần mức suy  dinh dưỡng độ 2 (DD – 2SD) và cao 68 cm là thấp hơn so với tuổi và chưa mọc răng là dấu hiệu của còi xương. Cần cho trẻ ăn theo đúng chế độ ăn theo tuổi. Ngoài sữa mẹ cần ăn thêm 3 bữa bột đặc (thay đổi hàng ngày), mỗi bữa 200ml và ăn thêm hoa quả nghiền 6-8 thìa cà phê/ngày, bổ sung thêm vitamin D và canxi.

***

Hỏi: Cho tôi hỏi 1 câu về dinh dưỡng cho trẻ: Con tôi hiện gần 8 tháng, là cháu trai, nặng 7,5kg cao 71 cm. Con tôi ăn uống và phát triển bình thường: 3 bữa cháo mặn/ngày, uống khoảng 800-900 ml sữa/ngày, ngoài ra tôi còn cho cháu ăn thêm các loại trái cây, uống nước hoa quả và yaourt. Nhưng không hiểu sao nhìn cháu giống trẻ khoảng 4-5 tháng. Cháu ngồi chưa vững. Xin hỏi chế độ ăn uống của cháu như vậy đã hợp lý chưa và làm sao để cháu phát triển tốt hơn? Xin nói thêm là 1 ngày cháu ngủ khoảng 12-13 giờ. Xin các bác sỹ trả lời giúp.

Le Luu Hong Diem (luuhdiem2911@gmail.com)

Trả lời: Con bạn 8 tháng nặng 7,5 kg cao 71cm thì chỉ nhẹ cân một chút. Chế độ ăn như vậy là đủ, ngoài ra có thể cho cháu uống thêm men tiêu hóa và vitamin D và canxi.

***

Hỏi: Tôi có cháu gái, hiện đã hơn 16 tháng, cân nặng 8,5kg. Chế độ ăn của cháu là ngày ăn 3 bữa cháo (mỗi bữa 1 bát con), 1 lạng thịt, hoặc cá tôm tương đương, uống 600ml sữa, 1 hộp sữa chua, hoa quả ... Thỉnh thoảng lại bổ sung các khoáng chất như sắt, kẽm, canxi, vitamin... Theo bác sĩ cháu tôi có phải suy dinh dưỡng hay không? Ngoài ra, cháu tôi hay bị viêm họng và đi ngoài. Liệu có phải vì thế cháu bị nhẹ cân hay không? Khi cháu bị đi chảy, phân sống là mẹ cháu chỉ cho ăn cháo với thịt nạc, uống sữa tiêu chảy mà không cho ăn rau (chỉ ăn cà rốt), không dầu mỡ, kiêng ăn như các cụ mình, như thế có đúng không?

Nguyễn Thanh Bình (thanhbinh.nguyen@vtc.vn)

Trả lời: 16 tháng nặng 8,5 kg là suy dinh dưỡng nhẹ, chế độ ăn như vậy là đủ. Nguyên nhân cháu chậm lớn là do cháu hay bị viêm họng và tiêu chảy. Cần đi khám bác sĩ để được điều trị dứt điểm.

BS Bùi Quang Huy

Tư vấn bởi Phòng khám Medelab, 41 Nguyễn Thượng Hiền, Hai Bà Trưng, Hà Nội


Ngay từ bây giờ bạn đọc có thể gửi câu hỏi vào phần Gửi ý kiến của bạn ở phía dưới, hoặc địa chỉ: toasoan@giadinh.net.vn. Các bác sỹ của Phòng khám Medelab sẽ tư vấn và trả lời tất cả các câu hỏi về mọi lĩnh vực liên quan đến sức khỏe của bạn trong thời gian sớm nhất.
(suckhoe-doisong)
nhận xét | | Đọc thêm...

Trẻ khóc nhiều có thể bị rối loạn hành vi

Trẻ con quấy khóc được coi như là chuyện chẳng lạ gì với các bậc cha mẹ. Lâu nay, người ta cứ nghĩ đó chỉ là hiện tượng vô hại. Nhưng điều này đang được xem lại và các nhà khoa học cảnh báo: Nếu để trẻ khóc quá nhiều kèm theo một chế độ nuôi dưỡng không đầy đủ có thể là một nguy cơ tiềm ẩn của những rối loạn hành vi trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học danh tiếng về nhi khoa Archives of Disease in Childhood, các nhà khoa học thấy rằng có một mối liên quan giữa khóc nhiều và rối loạn hành vi. Ở đây, những rối loạn hành vi được đề cập là chứng tăng động, suy giảm tập trung, lo âu, trầm cảm. Nghiên cứu trên 17.000 trẻ em, các nhà khoa học của Trường ĐH Warwick (Anh) thấy rằng, những đứa trẻ mà họ theo dõi từ năm 1987 có những hiện tượng rối loạn hành vi khi mà thời bé bị bỏ khóc quá nhiều. Điều này còn tệ hại hơn nếu vừa có quấy khóc lại vừa bỏ ăn và ngủ ít. Những đứa trẻ này gần như có 100% nguy cơ bị bệnh.

GS. Dieter Wolke, Trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: Chúng ta nên xử lý các trường hợp quấy khóc quá mức ở trẻ và coi đó như là môt biện pháp để phòng bệnh tâm thần trong tương lai.

Đa Nhất(Theo BBC, 4/2011)
Suckhoe-doisong
nhận xét | | Đọc thêm...

Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Làm thế nào để phòng tránh suy dinh dưỡng? Cha mẹ cần quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ thế nào?



Cần thường xuyên theo dõi cân nặng của trẻ để phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng.             
Vì sao trẻ bị suy dinh dưỡng?
Suy dinh dưỡng ở trẻ thường do tổng hợp nhiều nguyên nhân gây ra như:
- Do dinh dưỡng: Trẻ không được bú sữa mẹ, cho ăn dặm không đúng cách, không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ, cho trẻ ăn quá ít lần trong ngày, kiêng khem quá mức khi trẻ bị bệnh.
- Do ốm đau kéo dài: Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…
- Do thể tạng dị tật: Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh.
- Do điều kiện kinh tế - xã hội: Suy dinh dưỡng là một bệnh do ảnh hưởng của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí.
Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn như trẻ hoạt động quá nhiều, hoặc sống trong môi trường quá nóng, quá lạnh, làm tiêu hao năng lượng nhiều; hoặc trẻ bị bệnh nặng có nhu cầu các dưỡng chất cao mà không được cung cấp tăng cường.
Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển. Nếu thấy 2 - 3 tháng liền trẻ không tăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.
Theo tiêu chuẩn cân nặng/tuổi người ta chia suy dinh dưỡng làm 3 độ:
- Suy dinh dưỡng độ I: Trọng lượng còn 90% so với tuổi
- Suy dinh dưỡng độ II: Trọng lượng còn 75% so với tuổi
- Suy dinh dưỡng độ III: Trọng lượng còn dưới 60% so với tuổi.
Những nguy cơ của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi; là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý hô hấp, tiêu chảy… xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn; Ảnh hưởng đến phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.
Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.
Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ
Giai đoạn sớm: Thường chỉ có biểu hiện đứng cân kéo dài hay sụt cân.
Giai đoàn toàn phát: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng. Khi thăm khám thấy có thể biểu hiện của thể phù, thể teo đét hay hỗn hợp.
Thể phù: Trẻ chỉ được nuôi bằng chất bột, thiếu tất cả những chất dinh dưỡng đa lượng có cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng vi lượng khác. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là: Phù trắng, mềm toàn thân; Rối loạn sắc tố da; Da xanh, niêm nhạt, suy thoái ở da, lông, tóc, móng; Còi xương;  Chậm phát triển tâm thần, vận động: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng.
Thể teo đét: Trẻ thiếu dinh dưỡng toàn bộ, cân nặng còn dưới 60% so với cân nặng trẻ bình thường. Mất toàn bộ lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi, trẻ teo đét, chi còn da bọc xương, vẻ mặt như cụ già. Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi, không ăn hoặc kém ăn. Thường xuyên có rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, phân sống.
Thể hỗn hợp: Thể phù sau khi điều trị phục hồi một phần, hết phù trở thành teo đét nhưng gan vẫn thoái hoá mỡ.


Làm gì khi trẻ bị suy dinh dưỡng?
Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.
- Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm,  nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa cần bổ sung các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).
Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi, đảm bảo đầy đủ 4 nhóm thực phẩm: đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.
Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm men tiêu hóa trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2 - 3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.
Với trẻ suy dinh dưỡng nặng (độ III): Cho ăn nhiều bữa trong ngày; Tăng dần calo; Dùng sữa cao năng lượng theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của bác sĩ.
Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường. Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.       
Bác sĩ Bạch Mai

Thực đơn tham khảo cho trẻ suy dinh dưỡng tại nhà
Trẻ dưới 6 tháng: Bú sữa mẹ theo nhu cầu. Trường hợp mẹ không đủ sữa mà phải dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ thì phải có chỉ định của bác sĩ.
Trẻ từ 6 - 12 tháng: Cho trẻ ăn nước cháo xay trộn sữa như trên nhưng tăng thêm lượng thịt, gạo và rau củ, trường hợp trẻ không thích ăn cháo trộn sữa thì dùng sữa cao năng lượng pha với nước sôi để ấm theo hướng dẫn mỗi ngày uống 500ml và cho ăn bột hoặc cháo xay 3 - 4 bữa/ngày, trẻ ăn ít có thể tăng số bữa lên.
Trẻ 13 - 24 tháng: 6h: 150 - 200ml sữa cao năng lượng; 9h: Cháo thịt + rau: 200ml (1 bát ăn cơm); Gạo tẻ: 30g; Thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả); Dầu: 10ml (2 thìa cà phê); Rau xanh: 20g (2 thìa cà phê); 12h: Sữa: 200ml; 14h: Chuối tiêu: 1 quả hoặc đu đủ 1 miếng;17h: Cháo thịt (cá, tôm, trứng) + rau + dầu
Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú kéo dài từ 18 - 24 tháng. Khi cai sữa vẫn nên cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành.
Ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu của trẻ.       
Theo SKĐS
nhận xét | | Đọc thêm...
 
Design Template by trị bệnh | Support by i xinh | Thiên Long Mobile Powered by Blogger