Bảo Hiểm ACE :
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thủy đậu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thủy đậu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thủy đậu - bệnh của thời tiết ấm

Tuy ít gây chết người nhưng căn bệnh này rất dễ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như bội nhiễm, viêm phổi, sinh con dị tật hoặc tử vong... Bệnh thường phát triển mạnh từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm.

Tiến sĩ Nguyễn Thu Yến, khoa Dịch tễ, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, cho phóng viên TS biết: Bệnh thủy đậu đang có xu hướng tăng trong mấy năm gần đây. Chỉ trong 2 tháng đầu năm nay, cả nước đã có 1.460 người mắc thủy đậu, gần gấp đôi cùng kỳ năm ngoái (810 ca). Riêng Hà Nội đã có 61 người mắc. Tỷ lệ mắc thủy đậu ở Hà Nội cao gấp 4,5 lần so với tỷ lệ trung bình của cả nước.

Bệnh thủy đậu do virus gây ra, rất dễ lây (qua đường hô hấp và tiếp xúc) và có khả năng lan thành dịch. Thủy đậu gây miễn dịch vĩnh viễn. Tuy nhiên, những người bị suy yếu hệ miễn dịch có thể nhiễm bệnh lần 2 (thường là nhẹ).

Diễn tiến bệnh

- Thời kỳ ủ bệnh: Trung bình 13-17 ngày. Bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

- Thời kỳ khởi phát: Kéo dài 24-48 giờ. Bệnh nhân sốt nhẹ, ớn lạnh, chán ăn, mệt mỏi. Một số bệnh nhân có những nốt hồng ban nổi trên da. Đây là tiền thân của những nốt đậu, xuất hiện khoảng 24 giờ trước khi trở thành bóng nước.

- Thời kỳ toàn phát: Bệnh nhân có thể sốt nhẹ hoặc không sốt. Trên da nổi các bóng nước hình tròn hoặc hình giọt nước trên viền da hồng, bắt đầu từ thân, sau lan sang chân tay, mặt. Bóng nước cũng có thể mọc ở niêm mạc miệng, đường tiêu hóa, hô hấp… gây ra các triệu chứng nuốt đau, có dấu hiệu loét đường tiêu hóa, khó thở, tiểu rát. Ở một số trẻ, bóng nước còn mọc ở mí mắt hoặc kết mạc. Bóng nước càng nhiều chứng tỏ bệnh càng nặng.

- Thời kỳ hồi phục: Các bóng nước đóng mày, xảy ra 1 tuần sau khi bóng nước xuất hiện.

Ở người có hệ thống miễn dịch bị suy yếu hoặc tổn thương, đặc biệt là bệnh nhân ung thư hệ bạch huyết, thời gian hồi phục dài gấp ba lần so với người bình thường. Tỷ lệ tử vong ở họ là 15%.

Các biến chứng

- Bội nhiễm: Đây là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện chủ yếu là nhiễm trùng da (do nốt đậu bị vỡ, hoặc do da bị trầy xước khi gãi). Tình trạng bội nhiễm cũng có thể gây viêm mô tế bào, viêm hạch ngoại biên, áp xe dưới da.

- Viêm phổi: Thường gặp ở người lớn và người suy giảm miễn dịch. Bệnh nhân sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực và ho ra máu. Nếu đang có mang từ tháng thứ tư trở lên, bệnh nhân có nhiều nguy cơ tử vong.

- Sinh con dị tật hoặc tử vong: Nếu người mẹ mắc thủy đậu trong 3 tháng cuối thai kỳ, đứa trẻ sinh ra có thể bị sẹo da, teo cơ, bất thường ở mắt, co giật, chậm phát triển, tâm thần… Nếu mẹ bị thủy đậu 5 ngày trước khi sinh, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 30%. Ở những trẻ sống sót, các cơ quan nội tạng thường bị tổn thương, đặc biệt ở phổi.

Phòng ngừa

Người mắc thủy đậu có thể truyền bệnh cho người khác từ 24 giờ trước khi phát ban cho đến khi những nốt đậu đóng mày (trung bình 7-8 ngày). Vì vậy, ngay khi phát hiện bệnh, cần cách ly bệnh nhân, tránh tiếp xúc với họ cho đến khi khỏi hẳn.

Ngoài ra, để phòng bệnh, mọi người nên tiêm phòng. Tiến sĩ Thu Yến cho biết, loại vacxin phòng thủy đậu phổ biến hiện nay là Varilrix của Mỹ, giá 300.000 đồng/liều. Trẻ 1-12 tuổi tiêm một liều; người 13 tuổi trở lên tiêm 2 liều (cách nhau 6-10 tuần).

Điều trị

Mục đích chủ yếu là giảm nguy cơ gây biến chứng. Bệnh nhân cần:

- Dùng thuốc chống ngứa (tại chỗ hoặc toàn thân), nếu cần có thể uống thuốc an thần.

- Tắm bằng dung dịch sát trùng, cắt ngắn móng tay, mặc áo quần kín (để tránh nhiễm trùng và chống ngứa).

- Có thể dùng các thuốc giảm đau, hạ sốt. Nhất thiết không không dùng aspirin cho trẻ em vì thuốc này có thể gây hội chứng Reye, với các biểu hiện bồn chồn, lo âu, kích thích, hôn mê, co giật do phù não.

Nếu muốn dùng các loại thuốc chống virus thủy đậu, bệnh nhân cần theo chỉ định của bác sĩ.

Thanh Nhàn

Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
nhận xét | | Đọc thêm...

Bệnh thủy đậu

Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm rất hay lây, có khả năng gây thành dịch, do một loại siêu vi trùng gây ra, có tên gọi là Varicella-Zoster Virus. Bệnh có thể xảy ra ở khắp nơi, nhưng thường gặp nhất ở những nơi đông dân cư, nhà trẻ, trường mẫu giáo…

Bệnh thủy đậu
Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng thường gặp nhất ở trẻ con. Trong những năm gần đây, người lớn mắc bệnh thuỷ đậu nhiều hơn trước. Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp, bằng những giọt nước bọt bắn ra từ người bệnh, một số ít lây qua do tiếp xúc trực tiếp với bóng nước. Thời gian lây bệnh bắt đầu 24 giờ trước khi có phát ban và kéo dài cho đến những nốt đậu đóng mài (trung bình 7- 8 ngày).
Bệnh được biểu hiện như thế nào?
Khi bị nhiễm siêu vi gây bệnh, bệnh được biểu hiện qua nhiều giai đoạn:
Giai đoạn ủ bệnh: Đây là giai đoạn cơ thể đã bị xâm nhập bởi tác nhân gây bệnh, nhưng chưa có biểu hiện các triệu chứng bệnh lý. Thời kỳ này kéo dài trung bình từ 13 -17 ngày.
Giai đoạn khởi phát: Người bệnh có thể sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, nhức đầu… Một số trường hợp có thể phát ban tạm thời, với những nốt hồng ban, kích thước vài mm, nổi trên nền da bình thường. Đây là tiền thân của những nốt đậu sau đó.
Giai đoạn toàn phát: Đây là thời kỳ đậu mọc. Trong giai đoạn này, trên da xuất hiện những bóng nước hình tròn hay hình giọt nước trên viền da màu hồng. Bóng nước có đường kính từ 3-10 mm. Đầu tiên xuất hiện ở thân mình, sau đó lan đến mặt và tứ chi. Bóng nước lúc đầu chứa dịch trong, sau có thể hóa đục. Chúng mọc nhiều đợt trên một vùng da, nên ta có thể thấy tổn thương ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Từ hình ảnh phát ban, bóng nước chứa dịch trong, bóng nước chứa dịch đục, cho đến các tổn thương đã đóng mài.
Ngoài ra, các bóng nước có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng, đường tiêu hóa, hô hấp hoặc tiết niệu, thậm chí ở bộ phận sinh dục, gây ra các triệu chứng buốt đau, dấu hiệu loét đường tiêu hóa, khó thở, tiểu rát… Một số trường hợp khác, các bóng nước có thể xuất hiện ở mi mắt hoặc kết mạc mắt. Trong giai đoạn này bệnh nhân có thể có sốt, ngứa ở nhiều mức độ khác nhau. Bóng nước càng nhiều thì bệnh càng nặng. Trẻ nhỏ thường nhẹ hơn trẻ lớn.
Giai đoạn hồi phục: Sau một tuần, hầu hết các bóng nước đóng mài. Bệnh chuyển sang giai đoạn hồi phục.
Bệnh thủy đậu có thể phát sinh các biến chứng gì?
Chính vì bệnh thường gây các tổn thương xuất hiện trên da, nên tình trạng bội nhiễm là biến chứng thường gặp nhất của bệnh thủy đậu. Biến chứng này xảy ra do các nốt đậu bị vỡ hoặc da bị trầy xước do bệnh nhân gãi, hay do các tổn thương không được chăm sóc đúng qui cách.
Biến chứng thứ hai là viêm phổi thủy đậu, có thể gặp ở người lớn và những người suy giảm miễn dịch. Đây là biến chứng nguy hiểm, có thể xảy ra trong thời kỳ đậu mọc với các biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu. Trên X quang sẽ thấy hình ảnh tẩm nhuận dạng nốt và viêm phổi mô kẽ.
Biến chứng thứ ba là hội chứng Reye: Trong giai đoạn đậu mọc nếu cho trẻ uống Aspirin để hạ sốt hoặc giảm đau, trẻ có thể bị hội chứng Reye. Hội chứng này xuất hiện ở giai đoạn hồi phục của bệnh với triệu chứng bồn chồn, lo âu, kích thích. Trong trường hợp nặng có thể diễn tiến đến hôn mê, co giật do phù não.
Dị tật bẩm sinh là biến chứng thứ tư được đề cập đến. Trẻ em có mẹ bị bệnh trong 3 tháng cuối thai kỳ, sau sinh sẽ có thể bị dị tật bẩm sinh với hình ảnh sẹo da, teo cơ, bất thường ở mắt, co giật, chậm phát triển tâm thần…
Viêm não thủy đậu cũng là biến chứng có thể gặp trong bệnh thủy đậu. Biến chứng này có thể gặp trong thời kỳ ủ bệnh, trong giai đoạn nổi bóng nước hoặc trong giai đoạn hồi phục. Biểu hiện thường gặp là rung giật nhãn cầu, đôi khi có thể kèm theo co giật hoặc hôn mê.
Phòng trị bệnh như thế nào?
Mục đích điều trị của bệnh thủy đậu ở những người có hệ thống miễn dịch bình thường là để giảm nguy cơ gây biến chứng.
Việc điều trị bao gồm: Chăm sóc tại chỗ các bóng nước trên da bằng các dung dịch sát khuẩn, chống nhiễm trùng như dung dịch Methylene Blue, Milian… và các thuốc điều trị triệu chứng chống ngứa, kháng sinh chống bội nhiễm và thuốc chống siêu vi trùng (Acyclovir là thuốc được xem có hiệu quả chống siêu vi gây nên bệnh thủy đậu. Thuốc có khả năng rút ngắn thời gian tạo bóng nước, làm giảm tổn thương da mới và các triệu chứng của bệnh). Việc điều trị cần được thực hiện dưới sự kiểm soát của thầy thuốc chuyên khoa.
Về phòng ngừa, có một số biện pháp được đặt ra: Khi phát hiện bệnh, người bệnh cần được cách ly cho đến lúc các nốt đậu đóng mài. Tuy nhiên, hiệu quả hạn chế, do bệnh có thể lây từ 24-48 giờ trước khi xuất hiện các bóng nước trên da. Bên cạnh đó, chủng ngừa là biện pháp có ý nghĩa tích cực trong phòng bệnh, nhằm tạo khả năng miễn dịch khống chế tác nhân gây bệnh.
(Theo NN)
nhận xét | | Đọc thêm...
 
Design Template by trị bệnh | Support by i xinh | Thiên Long Mobile Powered by Blogger