Bảo Hiểm ACE :
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Hội chứng đau vai gáy - Phòng hơn chữa

Có rất nhiều người sau một đêm ngủ dậy bỗng thấy thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau tê dại vùng vai, gáy, nhiều khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay. Triệu chứng này có thể trong nhiều ngày thậm chí trong nhiều tháng... Hội chứng đau vai gáy thông thường không nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.

Vì sao vai gáy bị đau ?

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Các nguyên nhân thông thường nhất có thể kể đến như ngồi làm việc sai tư thế trong thời gian dài, ngồi làm việc liên tục với máy tính, sai tư thế khi lái xe, gối đầu, ngủ tựa đầu lên ghế, nằm xem tivi... Ngồi trước quạt, máy lạnh (máy điều hoà) lâu, dầm mưa dãi nắng lâu, ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy, tắm rửa ban đêm,... làm giảm sự cung cấp oxy cho các tế bào cơ, gây thiếu máu cục bộ ở các cơ dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Ngoài ra, hội chứng đau vai gáy còn có thể do các nguyên nhân bệnh lý như: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ. Đôi khi có những trường hợp hội chứng đau vai gáy xuất hiện tự phát mà không có nguyên nhân rõ rệt. Người hay nằm nghiêng, co quắp, khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm, việc lưu thông máu và trao đổi ôxy trong cơ thể giảm cũng sẽ dễ bị đau nhức khi ngủ dậy. Thông thường, từ tuổi trung niên trở đi, hệ mạch máu đã giảm tính dẻo dai, đàn hồi nên hay mắc chứng đau cổ, vai, gáy nhất.

Người bệnh đau mỏi, khó chịu 



Các biểu hiện của hội chứng đau vai gáy thường gặp nhất là đau âm ỉ hoặc dữ dội ở vùng cổ, gáy, cảm giác nhức nhối khó chịu, có khi đau nhói như điện giật. Đau có thể lan lên mang tai, thái dương hoặc lan xuống vai, cánh tay. Nhưng khác với bệnh viêm quanh khớp vai, người bệnh bị đau vai gáy không bị hạn chế vận động khớp. Một số trường hợp có thể kèm theo co cứng cơ, tê ở cánh tay, cẳng tay, bàn ngón tay hoặc nặng hơn là yếu liệt cơ, teo cơ.

Có thể có các điểm đau khi ấn vào các gai sau và cạnh cột sống cổ kèm hạn chế vận động cột sống cổ. Đau có thể xuất hiện tự phát hoặc sau khi lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, nhiễm lạnh. Đau có thể cấp tính (xuất hiện đột ngột) hoặc mãn tính (âm ỉ, kéo dài). Đau thường có tính chất cơ học: tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, ho, hắt hơi, vận động cột sống cổ; giảm khi nghỉ ngơi. Đau cũng có thể tăng khi thời tiết thay đổi. Để chẩn đoán nguyên nhân, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng. Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán bao gồm chụp X-quang cột sống cổ, đo điện cơ và chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ.
Nhiều trường hợp tình trạng đau vai gáy kéo dài dẫn đến người bệnh luôn cảm thấy vô cùng mệt mỏi, khó chịu, không tập trung, tư duy kém,... ảnh hưởng lớn tới tinh thần và hiệu quả lao động.

Bệnh có chữa được không?

Người bị hội chứng đau nhức cổ, vai, gáy khi đi khám nếu bác sĩ chuyên khoa thấy không có nguyên nhân chèn ép gây tổn thương thì người bệnh sẽ được chỉ định dùng thuốc giảm đau, cao dán,... hoặc dùng vật lý trị liệu, xoa bóp, ấn huyệt, châm cứu,.... tại các bệnh viện, phòng khám y học cổ truyền sẽ mang lại hiệu quả tốt.
Nếu chỉ bị nhẹ, cơn đau không kéo dài, bản thân người bệnh có thể tự điều trị bớt đau bằng cách dùng hai bàn tay xoa bóp, gõ, vuốt cho vùng cổ, vai, gáy nhiều lần có thể giảm đau.
Các thuốc thường dùng trong điều trị hội chứng đau vai gáy bao gồm thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B. Ngoài ra, các phương pháp vật lý trị liệu như nhiệt trị liệu, điện xung, sóng ngắn, siêu âm trị liệu, kéo dãn cột sống cổ, xoa bóp bấm huyệt, tập vận động cột sống cổ cũng giúp ích rất nhiều cho việc điều trị. Tuy nhiên, người bệnh cũng cần phải nhớ rằng không được xoa bóp bấm huyệt hoặc tập vận động trong giai đoạn cấp tính. Một số trường hợp người bệnh cần được điều trị bằng phẫu thuật: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, vẹo cột sống...

Thay đổi tư thế làm việc để phòng ngừa đau vai gáy.



Nên phòng đau cổ, vai, gáy từ khi chưa có biểu hiện thương tổn bằng cách khi ngồi hay đứng đều phải đúng tư thế. Cần chú ý không làm việc quá lâu tại bàn giấy, đặc biệt với máy vi tính, cứ mỗi 30 phút nên dừng lại để thực hiện các động tác vận động cột sống cổ, vai và tay. Cần giữ cổ luôn thẳng, tránh sai tư thế khi ngồi học, đọc sách hoặc đánh máy, không cúi gập cổ quá lâu. Không nằm gối đầu cao để đọc sách hay xem tivi sẽ làm sai tư thế của cột sống cổ. Khi ngủ chỉ gối đầu cao khoảng 10cm. Khi xem tivi nên tựa lưng vào đệm, đầu hơi ngửa ra sau thành ghế, cổ tựa vào một điểm phù hợp với độ cong sinh lý của cổ.
Không bẻ, lắc cổ kêu răng rắc, nhiều người có thói quen khi mỏi cổ thường bẻ cổ, lắc cổ cho kêu để hết mỏi cổ nhưng thực tế lại gây tác dụng hoàn toàn trái ngược, bởi nếu đĩa đệm đã bị thoái hóa gây mỏi cổ, khi bẻ hoặc vặn sẽ tạo đà cho đĩa đệm thoát vị ra ngoài và làm bệnh thêm trầm trọng.
Khi bị đau vai, gáy nên nghỉ ngơi, hạn chế vận động ít ngày, bổ sung một số khoáng chất cho cơ thể như canxi, kali và các vitamin C, B, E, xoa bóp giúp giãn cơ chỗ đau, tăng cường máu đến cơ bắp.
Ngoài ra người bệnh nên thường xuyên luyện tập thể dục thể thao với các bài tập phù hợp; Vận động, nghỉ ngơi, giải lao giữa giờ làm việc, nên giải lao khi phải ngồi kéo dài, cứ 45-60 phút giải lao một lần; Tránh căng thẳng; Luyện tập các động tác dưỡng sinh như ưỡn cổ, cúi đầu về phía trước, ngửa đầu ra phía sau, nghiêng đầu sang trái, sang phải, xoay tròn đầu và cổ, cử động cổ lên xuống... thường xuyên sẽ phòng được bệnh.
(theo: suckhoedoisong.vn)


nhận xét | | Đọc thêm...

Người bị viêm khớp có thể dẫn đến 8 bệnh ung thư nguy hiểm

Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải một số loại ung thư, tùy thuộc vào các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng. 
Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi. 

Do vậy, nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch. 

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố. Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được. 

Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường. Điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng. 

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể. 

Mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Ung thư vú và ung thư đại trực tràng: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này. Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư đại trực tràng. Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.

Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.
Theo Afamily
nhận xét | | Đọc thêm...

Trẻ em cũng có thể bị viêm khớp

Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường. 
Viêm khớp mạn tính trong độ tuổi thiếu niên là một trong những bệnh phổ biến nhất ở lứa tuổi này. Bệnh có thể gây ra những tổn thương ở màng ngoài tim, các mạch máu trong và ngoài tim, viêm cơ tim.

5-15 tuổi dễ mắc bệnh

Đây là nhóm bệnh tự miễn dịch, nguyên nhân gây bệnh chưa rõ, được định nghĩa là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella.

Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường. Trẻ có thể bị nổi mẩn đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, thường là trẻ bị sưng đau các khớp cổ tay, khớp gối và mắt cá chân. Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ ấm nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. 

Một ca can thiệp cho trẻ bị dính khớp tại BV Nhi TƯ. Ảnh: P.Ninh.

Các tổn thương khác cũng có thể gặp như trẻ bị nổi hạch, gan lách to, viêm đa màng như tràn dịch màng phổi,viêm màng tim hay viêm cầu thận.

Theo các chuyên gia tim mạch, trên 38% trẻ bị viêm khớp mạn tính có biểu hiện các bệnh về tim mạch như: viêm cơ tim, bệnh van tim... Đặc biệt là những bệnh nhân bị tổn thương khớp lan rộng, viêm đa khớp và rối loạn miễn dịch. Những bệnh nhân này tập trung chủ yếu ở hai nhóm tuổi chính là 5 - dưới 10 tuổi và nhóm 10 - 15 tuổi. Trong đó hơn 10,9% bị viêm cơ tim, 10,9% mắc bệnh van tim với tổn thương van hai lá chủ yếu, 9,1% rối loạn dẫn truyền.

Dinh dưỡng tốt, ngủ đủ

Khi mắc bệnh, bệnh nhân cần phải được khám và điều trị của bác sĩ chuyên khoa khớp vì có thể trẻ bị thể bệnh nặng gây nguy hiểm. Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt, nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu, duy trì sinh hoạt thường ngày), dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.

Vật lý trị liệu nhằm duy trì đến mức tối đa tầm vận động của khớp, tránh cứng khớp, dính khớp. Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp... Tuy nhiên trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.


Theo Afamily
nhận xét | | Đọc thêm...

Tin vui cho bệnh nhân thoái hóa khớp

ANTĐ - Đau nhức, tê buốt khi đi
lại, vận động; đau khi thay đổi tư thế, mang vác vật nặng, thậm chí cúi xuống, đứng lên, quay ngang đều đau… là những biểu hiện đặc trưng ở các bệnh nhân bị thoái hoá khớp. Nguyên nhân là do khớp bị thoái hóa. Khi sụn khớp bị lão hóa sẽ trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, lớp sụn ngày càng mỏng đi, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ… để trơ lại lớp xương ở bên dưới. Đồng thời, lượng dịch nhầy (dịch khớp) - có tác dụng bôi trơn các đầu khớp xương và sụn cũng dần cạn kiệt. Điều này khiến những khớp xương hoạt động không “trơn tru” và phát ra tiếng kêu… đó chính là nguyên nhân của những cơn đau ở người thoái hóa.
Tin vui cho các bệnh nhân thoái hóa khớp là hiện nay các nhà khoa học của Mỹ đã nghiên cứu, tìm ra giải pháp ưu việt giúp phục hồi, tái cấu trúc khớp, sụn thông qua việc tổng hợp nên một sản phẩm có công thức vượt trội gồm nhiều thành phần hữu ích cho sụn khớp. Công thức này được tổng hợp trong Viên uống ARTHRI-FLEX dành cho bệnh nhân thoái hóa khớp. Không như các giải pháp thông thường khác chỉ giúp giảm đau tạm thời, viên uống ARTHRI-FLEX với công thức tiên tiến nhất hiện nay gồm UC - II (Collagen tuýp 2 không biến tính) và  10 thành phần thiết yếu khác như: MSM, Acid Hyaluronic, Flexicol, Vitamin C, Magnesium; Copper; Manganese; Molybdenum, Hydroxypropyl Cellulose, Stearic và đặc biệt là có chứa Glucosamine và Chondroitin hàm lượng cao (lên tới 1500mg)… nhờ đó ARTHRI-FLEX mang tới 2 tác dụng ưu việt là giúp phục hồi, nuôi dưỡng sụn khớp, đồng thời giúp sản sinh lượng dịch khớp. Nhờ đó, sẽ làm tăng khả năng bôi trơn, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp, giúp người bệnh đẩy lui cảm giác đau đớn khi vận động. ARTHRI-FLEX thực sự là giải pháp cơ bản, lâu dài trong phòng và hỗ trợ điều trị bệnh lý thoái hóa khớp.
Sản phẩm này được nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ, hiện nay đã có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. 
Trần Thắng
nhận xét | | Đọc thêm...

Loãng xương liên quan đến nếp nhăn

ANTĐ - Sau khi khảo
sát tình trạng nếp nhăn của 114 phụ nữ trung niên ở  thời kỳ đầu mãn kinh (mãn kinh chưa quá 3 năm), nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Yale, Hoa Kỳ đã phát hiện, tính đàn hồi của da liên qua mật thiết đến chất lượng và mật độ của xương. 
Nhóm nghiên cứu đánh giá độ sâu và số lượng của nếp nhăn vùng mặt và cổ của những phụ nữ này, kiểm tra mật độ xương và độ mềm mại của da vùng trán và mặt. Kết quả là: nếp nhăn càng sâu, mật độ và chất lượng xương càng thấp, hơn nữa, điều này còn liên quan đến chất lượng xương toàn cơ thể.

Da vùng mặt và trán càng căng, nghĩa là mật độ xương càng cao. Mặc dù nguyên nhân cụ thể của mối liên hệ này chưa rõ ràng, nhưng chuyên gia cho biết, da và xương cùng có một điểm chung là chứa collagen. Sự thiếu hụt collagen sẽ khiến da xuất hiện nếp nhăn, bị nhão; đồng thời thiếu collagen khiến số lượng và chất lượng của xương bị thoái hóa, gây hiện tượng loãng xương.

Nếu ở tuổi trung niên, thấy có nhiều nếp nhăn hơn so với độ tuổi, có thể đến bệnh viện kiểm tra thêm “sức khỏe” của xương, để có phương pháp cải thiện. Cũng có thể tham khảo bổ sung collagen từ thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, như bì lợn, chân giò, gân bò…

Đỗ Mai 
(Theo Xinhuanet)
nhận xét | | Đọc thêm...
 
Design Template by trị bệnh | Support by i xinh | Thiên Long Mobile Powered by Blogger