Bảo Hiểm ACE :
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh truyền nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh truyền nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng

Viêm gan A mối nguy hiểm khôn lường

Bệnh viêm gan A do virut, gọi tắt là viêm gan A (VGA) là bệnh có tỷ lệ mắc cao ở những nước có điều kiện kinh tế còn kém phát triển. Con đường lây lan của bệnh qua đường ăn uống từ người bệnh sang người lành càng làm cho nguy cơ mắc bệnh tăng lên nếu không được kiểm soát một cách đúng đắn.

Bệnh lây truyền trực tiếp từ người sang người




VGA được xác định là bệnh lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua thức ăn và nước uống bị nhiễm virut viêm gan A (HAV). HAV đào thải qua phân ở cuối thời kỳ ủ bệnh kéo dài hàng tuần (cho tới khi lui bệnh). Bởi vậy, ăn uống mất vệ sinh là điều kiện thuận lợi cho mắc bệnh. Nhân viên y tế, khách du lịch, cô bảo mẫu... là những đối tượng có nguy cơ cao, dễ mắc phải căn bệnh này. Nhiễm khuẩn thức ăn, nguồn nước là nguy cơ gây ra những vụ dịch lớn nhỏ hiện nay. VGA có thể lây truyền qua truyền máu, tuy nhiên khả năng lây theo phương thức này là rất hy hữu.

Bệnh VGA được biết đến từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Hyppocrate đã mô tả lâm sàng bệnh này với tên gọi là "bệnh vàng da truyền nhiễm". Đến năm 1947, bệnh được đặt tên là VGA để phân biệt với bệnh viêm gan B - một bệnh viêm gan virut lây bằng đường máu.

VGA là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lưu hành khắp trên thế giới, tuy nhiên tính phổ biến khác nhau ở từng vùng. Ở các nước nghèo, các nước đang phát triển với điều kiện vệ sinh kém, bệnh VGA rất phổ biến. Ở Đông Nam Á, VGA thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Một nghiên cứu tiến hành ở Indonesia cho biết, có những vùng tỷ lệ nhiễm HAV ở trẻ em dưới 4 tuổi lên đến 90-100%. Việt Nam cũng là nước có mức độ lưu hành rộng rãi căn bệnh này. Một nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết tại huyện Tân Châu (An Giang) tỷ lệ nhiễm HAV ở trẻ em là 97%. Tại các bệnh viện, HAV là nguyên nhân của khoảng 30-50% số trường hợp viêm gan cấp. Ngược lại, tại các nước phát triển, như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản... nhờ điều kiện sống đầy đủ và vệ sinh cộng với chương trình tiêm chủng vaccin viêm gan A sớm được triển khai nên tỷ lệ nhiễm HAV liên tục giảm.

Có thể tử vong vì viêm gan A

Người ta chia bệnh làm các dạng khác nhau đó là:

Viêm gan cấp tính: Sau một thời gian ủ bệnh, trung bình là 30 ngày, bệnh nhân khởi phát đột ngột các dấu hiệu bệnh giống như cảm cúm: sốt, ho, đau mỏi cơ, nhức đầu, mệt mỏi, chán ăn, đi tiểu ít, nước tiểu sẫm màu. Chính vì dấu hiệu này mà nhiều người chủ quan, cho rằng chỉ bị cảm cúm thông thường, nếu không được phát hiện sớm bệnh sẽ nặng lên, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Sau 5-7 ngày với những triệu chứng trên, bệnh nhân hết sốt nhưng vẫn tiếp tục mệt mỏi và chán ăn. Dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện tăng dần và thường kéo dài từ 2-4 tuần. Bệnh VGA cấp tính thường tự khỏi, người bệnh đi tiểu nhiều và hết vàng da, vàng mắt nhưng có khoảng 2% số trường hợp diễn biến nặng, có thể dẫn đến suy gan, hôn mê gan, làm cho người bệnh tử vong.

Viêm gan tối cấp: Bệnh diễn biến nhanh chóng trong một tuần với sốt cao, vàng mắt, mệt lả, gan teo nhỏ và hôn mê gan thường là biểu hiện cuối cùng trước khi tử vong.

Viêm gan kéo dài: Hiện tượng này rất ít gặp nhưng hiện tượng ứ mật kéo dài, đôi khi xảy ra có thể là từ 2-3 tháng, nhưng ít khi để lại hậu quả nặng nề. Không ghi nhận thể viêm gan mạn tính hoặc tình trạng mang HAV suốt đời.

Vaccin là biện pháp phòng bệnh tốt nhất

Hầu hết các trường hợp VGA cấp tính thường diễn biến nhẹ. Phương pháp điều trị chủ yếu là nằm nghỉ ngơi trong thời gian mắc bệnh. Đồng thời các bác sĩ sẽ điều chỉnh những rối loạn chức năng: truyền dịch, lợi mật, lợi tiểu... Tuy nhiên không vì thế mà người bệnh tự điều trị tại nhà mà cần đến bệnh viện để khám, xét nghiệm (men gan, các chức năng gan và Anti- HAV lớp IgM...) để xác định bệnh và tiên lượng chính xác xem người bệnh mắc VGA ở thể nào, cấp tính, tối cấp hay viêm gan kéo dài, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Đa số các bệnh nhân cần được nằm điều trị nội trú tại bệnh viện. Khi mắc bệnh, người bệnh cần được chăm sóc tốt, ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, không nên ăn những thứ nhiều mỡ, đường... tránh cho gan phải làm việc mệt nhọc.

Trước đây khi chưa có vaccin phòng bệnh đặc hiệu, người ta sử dụng liệu pháp tiêm dự phòng bằng globulin miễn dịch - Ig, song hiệu quả thấp và thời gian miễn dịch ngắn (khoảng 1 tuần). Cách ly người bệnh, ăn uống vệ sinh cũng là biện pháp phòng bệnh nhưng không thật sự đặc hiệu, không ngừa được đại dịch xảy ra. Hiện nay, vaccin viêm gan A (vaccin sống bất hoạt, giảm độc lực) đã được sử dụng trên toàn thế giới và Việt Nam, có tính miễn dịch và độ an toàn cao. Với lịch tiêm chủng là 0; 1; 6 tháng, chúng ta có thể yên tâm không bị mắc bệnh viêm gan A, một căn bệnh gây dịch, ảnh hưởng tới sức khỏe cá nhân và xã hội. Vaccin viêm gan A đã và đang được triển khai tới tận cơ sở.

ThS. Nguyễn Văn Dũng

(suckhoe&doisong)
nhận xét | | Đọc thêm...

Dấu hiệu bệnh lậu ở nữ giới


Lậu là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) ‘cổ xưa’. Ước tính, hàng năm trên thế giới, hơn 1 triệu người mắc phải căn bệnh này.
Một nửa số phụ nữ mắc bệnh không có triệu chứng, nhất là trong giai đoạn đầu. Hai dấu hiệu đặc trưng của bệnh lậu như sau:
- Tiểu rắt hoặc cảm giác nóng bừng khi tiểu.
- Âm đạo tiết dịch vàng, đỏ; sưng và bị nóng, ngứa âm đạo.
Nguy cơ với sức khoẻ
Nếu không điều trị, lậu có thể dẫn tới nhiễm trùng khung xương chậu, ảnh hưởng đến ống dẫn trứng và buồng trứng.
Triệu chứng đặc trưng của nhiễm trùng xương chậu là sốt, đau xương chậu, đau bụng và đau khi quan hệ vợ chồng. Hậu quả, người bệnh dễ dẫn tới chuyện bị vô sinh, hiếm muộn. 
 (Theo M&B)
nhận xét | | Đọc thêm...

Bệnh thủy đậu

Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm rất hay lây, có khả năng gây thành dịch, do một loại siêu vi trùng gây ra, có tên gọi là Varicella-Zoster Virus. Bệnh có thể xảy ra ở khắp nơi, nhưng thường gặp nhất ở những nơi đông dân cư, nhà trẻ, trường mẫu giáo…

Bệnh thủy đậu
Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng thường gặp nhất ở trẻ con. Trong những năm gần đây, người lớn mắc bệnh thuỷ đậu nhiều hơn trước. Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp, bằng những giọt nước bọt bắn ra từ người bệnh, một số ít lây qua do tiếp xúc trực tiếp với bóng nước. Thời gian lây bệnh bắt đầu 24 giờ trước khi có phát ban và kéo dài cho đến những nốt đậu đóng mài (trung bình 7- 8 ngày).
Bệnh được biểu hiện như thế nào?
Khi bị nhiễm siêu vi gây bệnh, bệnh được biểu hiện qua nhiều giai đoạn:
Giai đoạn ủ bệnh: Đây là giai đoạn cơ thể đã bị xâm nhập bởi tác nhân gây bệnh, nhưng chưa có biểu hiện các triệu chứng bệnh lý. Thời kỳ này kéo dài trung bình từ 13 -17 ngày.
Giai đoạn khởi phát: Người bệnh có thể sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, nhức đầu… Một số trường hợp có thể phát ban tạm thời, với những nốt hồng ban, kích thước vài mm, nổi trên nền da bình thường. Đây là tiền thân của những nốt đậu sau đó.
Giai đoạn toàn phát: Đây là thời kỳ đậu mọc. Trong giai đoạn này, trên da xuất hiện những bóng nước hình tròn hay hình giọt nước trên viền da màu hồng. Bóng nước có đường kính từ 3-10 mm. Đầu tiên xuất hiện ở thân mình, sau đó lan đến mặt và tứ chi. Bóng nước lúc đầu chứa dịch trong, sau có thể hóa đục. Chúng mọc nhiều đợt trên một vùng da, nên ta có thể thấy tổn thương ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Từ hình ảnh phát ban, bóng nước chứa dịch trong, bóng nước chứa dịch đục, cho đến các tổn thương đã đóng mài.
Ngoài ra, các bóng nước có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng, đường tiêu hóa, hô hấp hoặc tiết niệu, thậm chí ở bộ phận sinh dục, gây ra các triệu chứng buốt đau, dấu hiệu loét đường tiêu hóa, khó thở, tiểu rát… Một số trường hợp khác, các bóng nước có thể xuất hiện ở mi mắt hoặc kết mạc mắt. Trong giai đoạn này bệnh nhân có thể có sốt, ngứa ở nhiều mức độ khác nhau. Bóng nước càng nhiều thì bệnh càng nặng. Trẻ nhỏ thường nhẹ hơn trẻ lớn.
Giai đoạn hồi phục: Sau một tuần, hầu hết các bóng nước đóng mài. Bệnh chuyển sang giai đoạn hồi phục.
Bệnh thủy đậu có thể phát sinh các biến chứng gì?
Chính vì bệnh thường gây các tổn thương xuất hiện trên da, nên tình trạng bội nhiễm là biến chứng thường gặp nhất của bệnh thủy đậu. Biến chứng này xảy ra do các nốt đậu bị vỡ hoặc da bị trầy xước do bệnh nhân gãi, hay do các tổn thương không được chăm sóc đúng qui cách.
Biến chứng thứ hai là viêm phổi thủy đậu, có thể gặp ở người lớn và những người suy giảm miễn dịch. Đây là biến chứng nguy hiểm, có thể xảy ra trong thời kỳ đậu mọc với các biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu. Trên X quang sẽ thấy hình ảnh tẩm nhuận dạng nốt và viêm phổi mô kẽ.
Biến chứng thứ ba là hội chứng Reye: Trong giai đoạn đậu mọc nếu cho trẻ uống Aspirin để hạ sốt hoặc giảm đau, trẻ có thể bị hội chứng Reye. Hội chứng này xuất hiện ở giai đoạn hồi phục của bệnh với triệu chứng bồn chồn, lo âu, kích thích. Trong trường hợp nặng có thể diễn tiến đến hôn mê, co giật do phù não.
Dị tật bẩm sinh là biến chứng thứ tư được đề cập đến. Trẻ em có mẹ bị bệnh trong 3 tháng cuối thai kỳ, sau sinh sẽ có thể bị dị tật bẩm sinh với hình ảnh sẹo da, teo cơ, bất thường ở mắt, co giật, chậm phát triển tâm thần…
Viêm não thủy đậu cũng là biến chứng có thể gặp trong bệnh thủy đậu. Biến chứng này có thể gặp trong thời kỳ ủ bệnh, trong giai đoạn nổi bóng nước hoặc trong giai đoạn hồi phục. Biểu hiện thường gặp là rung giật nhãn cầu, đôi khi có thể kèm theo co giật hoặc hôn mê.
Phòng trị bệnh như thế nào?
Mục đích điều trị của bệnh thủy đậu ở những người có hệ thống miễn dịch bình thường là để giảm nguy cơ gây biến chứng.
Việc điều trị bao gồm: Chăm sóc tại chỗ các bóng nước trên da bằng các dung dịch sát khuẩn, chống nhiễm trùng như dung dịch Methylene Blue, Milian… và các thuốc điều trị triệu chứng chống ngứa, kháng sinh chống bội nhiễm và thuốc chống siêu vi trùng (Acyclovir là thuốc được xem có hiệu quả chống siêu vi gây nên bệnh thủy đậu. Thuốc có khả năng rút ngắn thời gian tạo bóng nước, làm giảm tổn thương da mới và các triệu chứng của bệnh). Việc điều trị cần được thực hiện dưới sự kiểm soát của thầy thuốc chuyên khoa.
Về phòng ngừa, có một số biện pháp được đặt ra: Khi phát hiện bệnh, người bệnh cần được cách ly cho đến lúc các nốt đậu đóng mài. Tuy nhiên, hiệu quả hạn chế, do bệnh có thể lây từ 24-48 giờ trước khi xuất hiện các bóng nước trên da. Bên cạnh đó, chủng ngừa là biện pháp có ý nghĩa tích cực trong phòng bệnh, nhằm tạo khả năng miễn dịch khống chế tác nhân gây bệnh.
(Theo NN)
nhận xét | | Đọc thêm...

Sốt xuất huyết: Những ngộ nhận chết người

Theo bộ Y tế, sốt xuất huyết đang có dấu hiệu bùng phát thành dịch ở nhiều nơi. Bên cạnh hậu quả do bệnh gây ra, những hiểu biết và xử lý bệnh không đúng cách, cũng góp phần làm cho tình trạng bệnh nguy hiểm hơn. 

Bệnh sốt xuất huyết xuất hiện quanh năm ở nước ta, đặc biệt gia tăng vào những tháng mùa mưa. Từ nhiều năm qua, sốt xuất huyết luôn là gánh nặng cho ngành y tế và là nỗi ám ảnh của các bậc phụ huynh. Sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm siêu vi trùng cấp tính do bốn týp huyết thanh virút Dengue gây ra. Bệnh nguy hiểm vì có thể gây tử vong nhanh chóng cho trẻ em. Nhiễm virút Dengue có thể gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng, nhẹ nhất là sốt nhẹ không phân biệt được với bệnh cảm cúm thông thường, hoặc gây ra bệnh sốt Dengue với biểu hiện sốt có thể kèm xuất huyết nhưng không gây ra hiện tượng cô đặc máu và truỵ tim mạch. Dạng nặng nhất là bệnh sốt xuất huyết Dengue có thể gây ra truỵ tim mạch (sốc) và tử vong nhanh chóng nếu không được phát hiện sớm và điều trị đúng.

Có phải sốt xuất huyết chỉ xảy ra ở trẻ tuổi đi học? Bệnh sốt xuất huyết không chỉ xảy ra ở trẻ tuổi đi học mà tất cả mọi người, từ sơ sinh đến người lớn, đều có thể bị sốt xuất huyết. Hiện ở các tỉnh phía Nam, khoảng 70% bệnh nhân sốt xuất huyết là trẻ 15 tuổi trở xuống, 30% trường hợp còn lại là ở người lớn và trẻ lớn trên 15 tuổi.

Bệnh sốt xuất huyết chỉ có biểu hiện sốt cao và chỉ khi trẻ sốt cao mới phải đi thử máu để chẩn đoán bệnh? Các dấu hiệu của sốt xuất huyết thường là trẻ sốt cao liên tục từ 2 – 7 ngày; có biểu hiện xuất huyết như chấm hoặc mảng xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, nôn ra máu, tiêu phân đen. Một số trẻ có biểu hiện truỵ tim mạch xảy ra từ ngày thứ ba đến hết ngày thứ sáu của bệnh khi trẻ hết sốt và có biểu hiện li bì hoặc bứt rứt, đau bụng; tay chân lạnh, vã mồ hôi, mạch nhanh nhẹ, khó bắt; tụt huyết áp hoặc huyết áp không đo được. Thử máu cho thấy dung tích hồng cầu tăng (cô đặc máu) và số lượng tiểu cầu giảm.

Đối với các trẻ sốt cao liên tục từ ngày thứ ba trở đi, phụ huynh nên nghĩ đến bệnh sốt xuất huyết và nên đưa các cháu đến khám tại các cơ sở y tế để được khám, điều trị và hướng dẫn cách chăm sóc. Theo diễn tiến của sốt xuất huyết, hiện tượng cô đặc máu và tiểu cầu giảm thường bắt đầu xảy ra từ ngày thứ ba của bệnh, do đó mà các bác sĩ thường cho các cháu thử máu từ ngày thứ ba trở đi. Tuy nhiên, tuỳ trường hợp bác sĩ vẫn có thể chỉ định thử máu sớm hơn để loại trừ các nguyên nhân nhiễm trùng khác gây sốt.

Cạo gió, uống Aspirine trị được sốt xuất huyết? Khi trẻ bị sốt cao có thể cho uống thuốc hạ sốt Paracetamol liều dùng từ 10 – 15mg cho mỗi ký cân nặng, uống từ 3 – 4 lần trong 24 giờ. Có thể lau mát cho trẻ bằng nước ấm để tránh biến chứng sốt cao làm kinh. Nên cho các cháu uống nhiều nước (nước cam, nước chanh, oresol, nước chín nguội), cho ăn thức ăn lỏng nhẹ, nằm nghỉ ngơi. Không nên cạo gió, cắt lể làm đau và có thể gây chảy máu, nhiễm trùng cho cháu. Đặc biệt, không tự ý cho uống thuốc Aspirine vì có thể gây chảy máu dạ dày nguy hiểm.

Có thể phòng ngừa bằng vắcxin? Bệnh sốt xuất huyết tuy xảy ra quanh năm nhưng cao điểm nhất vẫn là vào mùa mưa. Sốt xuất huyết lây từ người bệnh sang người lành do bị muỗi vằn đốt. Muỗi này sống trong nhà, đẻ trứng trong nước sạch và đốt trẻ vào ban ngày và sẩm tối. Hiện vẫn chưa có vắcxin chủng ngừa bệnh sốt xuất huyết. Do đó, để phòng bệnh cho trẻ, phụ huynh cần thực hiện các biện pháp sau: diệt muỗi, diệt lăng quăng bằng cách thường xuyên súc rửa, đậy kín lu, vại, hồ chứa nước; dẹp bỏ các vật chứa nước khác như vỏ xe cũ, gáo dừa, lọ hoa; phun thuốc diệt muỗi. Cho trẻ mặc áo dài tay, ngủ mùng, thoa kem chống muỗi.

Các dấu hiệu trở nặng của sốt xuất huyết

Trẻ ói mửa nhiều, đau bụng, bứt rứt. Tay chân lạnh, tím, vã mồ hôi. Chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói máu, đi tiêu ra máu. Trẻ hết sốt mà có một trong các dấu hiệu trở nặng này, phải được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay để điều trị kịp thời.

Khi trẻ bị sốt xuất huyết, phải theo dõi sát. Thời điểm nguy hiểm nhất là lúc trẻ hết sốt (thường từ ngày thứ 3 đến hết ngày thứ 6 của bệnh), trẻ có thể trở nặng, bị sốc dẫn đến tử vong nhanh nếu không phát hiện và cấp cứu kịp thời.

Theo 24H.COM.VN
nhận xét | | Đọc thêm...
 
Design Template by trị bệnh | Support by i xinh | Thiên Long Mobile Powered by Blogger